Ung thư tiền liệt tuyến

0
202

Tuyến Tiền Liệt

Tuyến tiền liện là một tuyến nhỏ chỉ có ở nam giới.  Tuyến tiền liệt có kích cỡ tương đương một hạt mít, và nó bao bọc xung quanh phần đầu của niệu đạo (urethra) đưa nước tiểu từ bàng quang tới dương vật.

Tuyến tiền liệt sản sinh ra một loại chất lỏng màu trắng gọi là tinh dịch được trộn lẫn với tinh trùng do tinh hoàn sản sinh ra.  Nó cũng sản sinh ra một loại protein được gọi là kháng nguyên đặc thù của tuyến tiền liệt (prostate-specific antigen PSA) giúp chuyển hóa tinh dịch thành chất lỏng. Tuyến này được bao bọc bởi một phiến cơ và hạch xơ.

Sự phát triển của tế bào tuyến tiền liệt và sự hoạt động của tuyến tiền liệt phụ thuộc vào hormone sinh dục nam testosterone do tinh hoàn sản sinh. Trực tràng nằm gần mặt bên của tuyến tiền liện.  Nằm gần tuyến tiền liệt là các hạch bạch huyết.  Đây là các tuyến nhỏ, có kích cỡ bằng hạt đậu.

Ung thư tiền liệt tuyến

Ung thư tuyến tiền liệt thường ảnh hưởng đến nam giới có độ tuổi trên 50, và thường hiếm khi gặp phải ở những người trẻ hơn độ tuổi này.  Loại ung thư này khác với hầu hết các loại ung thư khác trong cơ thể người, bởi vì thường thấy các khu vực nhỏ trong tuyến tiền liệt bị ung thư và ổ ung thư có thể “nằm yên” trong nhiều năm.

Khoảng 1/3 số nam giới có độ tuổi từ 50 trở lên có một vài tế bào ung thư trong tuyến tiền liệt của mình và hầu như toàn bộ nam giới trên 80 tuổi đều có một khu vực trong tuyến tiền liệt bị ung thư.  Đa số các ung thư này phát triển cực kỳ chậm và vì vậy, đặc biệt là với nam giới lớn tuổi, chúng không gây ra vấn đề gì.

Có một tỉ lệ nhỏ nam giới, ung thư tuyến tiền liệt phát triển nhanh hơn và trong một số trường hợp, nó có thể di căn sang phần khác của cơ thể, đặc biệt là xương.

Nguồn: CancerBACUP
Cập nhật ngày 08/01/2006

UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN
NGUYÊN NHÂN VÀ CHẨN ĐOÁN

Nguyên nhân

Số lượng người được chẩn đoán bị ung thư tiền liệt tuyến gia tăng trong những năm gần đây.  Điều đó được cho là do tuổi thọ của con người tăng lên và vì nam giới có cơ hội để xét nghiệm tầm soát ung thư tiền liệt tuyến.

Mặc dù nguyên nhân của ung thư tiền liệt tuyến vẫn chưa được xác định, có một số yếu tố được coi là làm gia tăng nguy cơ phát triển căn bệnh ở nam giới.  Các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh.

Những người có người thân trong gia đình (cha, chú hoặc anh trai) mắc hoặc đã từng mắc căn bệnh ung thư tiền liệt tuyến có thể có nguy cơ mắc chứng bệnh này.

Nếu gia đình có một phụ nữ mắc bệnh ung thư vú (đặc biệt là nếu trường hợp ung thư vú được chẩn đoán sau tuổi 40), thì gia đình người đó được coi là có hiện diện một gene lỗi di truyền.  Gene này có thể làm tăng rủi ro cho nam giới trong gia đình đó mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến.

Có một số nhóm chủng tộc có nguy cơ mắc chứng ung thư tiền liệt tuyến cao hơn những nhóm khác, ví dụ như nhóm người vùng Caribê gốc Phi hoặc người Mỹ gốc Phi thường có loại bệnh này.  Nam giới châu Á thường ít có nguy cơ mắc chứng bệnh ung thư này.

Thành phần bữa ăn giàu đạm động vật (bao gồm cả các sản phẩm từ sữa) và ít trái cây tuơi và rau xanh cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến.  Việc hấp thụ một lượng lớn canxi (từ các chế phẩm từ sữa) cũng làm tăng nguy cơ phát triển căn bệnh này.

Cà chua và các sản phẩm từ cà chua (chẳng hạn như nước sốt cà chua) có thể giúp chống lại ung thư tiền liệt tuyến.  Cà chua có chứa một chất gọi là lycopene.  Lycopene có thể làm giảm hàm lượng chất IGF-1 trong máu.  IGF-1 là một proteine có thể kích thích sự phát triển của các tế bào ung thư tiền liệt tuyến.  Cũng có một số chứng cứ chứng minh rằng ăn thức ăn có chứa chất selenium (selen) trong bữa ăn cũng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến.

Triệu chứng của ung thư tiền liệt tuyến

Nam giới mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến thường không có bất cứ triệu chứng gì, và những triệu chứng của bệnh này chỉ xuất hiện khi ung thư đủ lớn để tạo áp lực cho ống dẫn tiểu.  Nam giới ở độ tuổi trên 50 thường có hiện tượng phình to tuyến tiền liệt do một tình trạng không phải là ung thư được gọi là hiện tượng tăng sản lành tính trong tuyến tiền liệt benign prostatic hyperplasia (BHP), hoặc u lành.

Triệu chứng của việc tăng sản lành tính trong tuyến tiền liệt và u ác tính (ung thư) giống nhau và có thể bao gồm các triệu chứng sau:

  • khó khăn trong việc tiểu tiện
  • tiểu tiện thường xuyên hơn bình thường, đặc biệt là về đêm
  • đau khi tiểu tiện
  • có máu trong nước tiểu (triệu chứng này không thường xuyên).

Nếu bạn có một trong các triệu chứng trên, bạn cần phải kiểm tra các triệu chứng này với bác sĩ của mình.  Nhưng cũng nên lưu ý rằng, đa số các hiện tượng tăng kích thước tuyến tiền liệt không phải là ung thư.

Ung thư tuyến tiền liệt là một loại ung thư thường tiến triển chậm và có thể không xuất hiện trong nhiều năm.  Đôi khi, những triệu chứng đầu tiên là hiện tượng đau lưng, hông hoặc xương chậu do những tế bào ung thư đã di căn sang xương.

Tầm soát ung thư tiền liệt tuyến

Trong những năm gần đây, việc tầm soát để tìm ra ung thư từ những giai đoạn đầu tiên đã trở nên rất quan trong cho một vài loại bệnh ung thư.  Xét nghiệm máu để đo nồng độ của proteine đặc thù được gọi là PSA.  Xét nghiệm PSA có thể giúp sớm phát hiện ra ung thư tiền liệt tuyến.  Tuy nhiên, nam giới cũng không được đề nghị thực hiện xét nghiệm PSA để tầm soát ung thư tiền liệt tuyến bởi những lý do sau:

  • Đa số các ổ ung thư nhỏ được tìm ra nhờ tầm soát PSA có thể không bao giờ phát triển đến độ có bất kỳ triệu chứng ung thư nào.
  • Các nghiên cứu chưa cho thấy việc xác định sớm cũng như việc chữa trị sớm mang lại khả năng chữa khỏi.
  • Các xét nghiệm định bệnh ung thư này không hoàn toàn đáng tin cậy.  Trong mỗi 100 nam giới có nồng độ PSA cao, chỉ có khoảng 30 người có mắc bệnh ung thư bằng phương pháp sinh thiết.  Có đến 1/3 số nam giới có chỉ số PSA bình thường trong khi họ bị mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến.
  • Nếu nồng độ PSA cao, người đàn ông sẽ được thực hiện các xét nghiệm khác (như sinh thiết), là những xét nghiệm không dễ chịu và có một số người sẽ bị nhiễm trùng tuyến tiền liệt.  20% xét nghiệm sinh thiết ở tuyến tiền liệt ở đàn ông sẽ không cho kết quả bệnh ung thư trong khi người đó thực có bệnh ung thư.
  • Nhiều loại ung thư tiền liệt tuyến phát triển rất chậm và các ảnh hưởng phụ của việc điều trị (xạ trị hoặc phẫu thuật) có thể làm cho tình trạng tồi tệ hơn cả hậu quả của bệnh ung thư tiền liệt tuyến.  Nếu các xét nghiệm cho thấy bệnh nhân mắc bệnh ung thư ở giai đoạn đầu, rất khó để quyết định có nên hay không nên điều trị bệnh ung thư này.

Những người không có triệu chứng của bệnh nhưng muốn thực hiện xét nghiệm PSA cần phải thảo luận với bác sĩ tổng quát, là những người có thể cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho họ và có thể chuẩn bị cho họ một xét nghiệm máu.

Làm thế nào để chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến

Thông thường, những người có triệu chứng sẽ gặp bác sĩ tổng quát.  Bác sĩ tổng quát sẽ khám cho họ và hỏi họ về tình hình sức khỏe tổng quát của họ.

Các xét nghiệm đầu tiên để chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến là xét nghiệm thăm khám trực tràng và xét nghiệm PSA trong máu.

Thăm khám trực tràng

Vì trực tràng nằm gần tuyến tiền liệt, bác sĩ của bạn có thể cảm nhận được sự bất thường ở tuyến tiền liệt bằng cách thăm khám trực tràng bằng ngón tay (có đeo găng).  Việc làm này có thể gây khó chịu nhưng không đau đớn.

Nếu có ung thư hiện diện ở tuyến tiền liệt, người ta sẽ cảm thấy cứng và có u nhỏ, trong khi với hiện tượng tăng sản lành tính trong tuyến tiền liệt BHP (xem thêm phần Triệu Chứng), tuyến tiền liệt thường phình to, cứng và trơn láng.  Tuy nhiên, đôi khi tuyến tiền liệt vẫn cho cảm giác bình thường, dù đã có sự hiện diện của khối ung thư.

Xét Nghiệm PSA

Một mẫu máu sẽ được lấy đi để làm xét nghiệm PSA (kháng nguyên đặc thù trong tuyến tiền liệt).  PSA là một proteine được sản xuất bởi tuyến tiền liệt và một lượng nhỏ của nó thường được tìm thấy trong máu.  Nam giới có ung thư tuyến tiền liệt có khuynh hướng có nồng độ PSA cao hơn trong máu của họ.  Tuy nhiên, xét nghiệm này không phải lúc nào cũng đáng tin cậy vì nồng độ PSA cũng tăng lên khi nam giới già đi.  Nồng độ PSA cũng có thể tăng bởi các lý do sau:

  • Nhiễm trùng nước tiểu
  • Do việc sinh thiết tuyến tiền liệt trước đó không xa
  • Thông tiểu
  • Phẫu thuật tuyến tiền liệt hoặc phẫu thuật bàng quang

Có nhiều trường hợp nam giới có bệnh ung thư tuyến tiền liệt trong khi có nồng độ PSA bình thường.

Ơ nam giới có độ tuổi 50, nồng độ PSA khoảng 2,8ng trong 1ml máu được coi là bình thường.  Nam giới độ tuổi đến 70 tuổi có nồng độ PSA khoảng 5,3ng được coi là bình thường.  Nồng độ PSA cao hơn những mức này có thể là do nguyên nhân ung thư tiền liệt tuyến và lúc đó nên xét nghiệm sinh thiết.  Những người có nồng độ từ 10 trở lên sẽ được đề nghị thực hiện các xét nghiệm khác.

Thông thường, nồng độ độ PSA càng cao, khả năng mắc bệnh ung thư này càng cao.  Một khi bệnh ung thư được chữa trị, nồng độ PSA sẽ giảm xuống.  Vì vậy, đo nồng độ PSA có thể giúp ích cho việc đánh giá tiến triển của bệnh ung thư và mức độ hiệu quả của việc chữa trị.

Nếu nồng độ PSA của bạn tăng cao, hoặc nếu bác sĩ tổng quát của bạn cảm giác có điểm bất thường trong khi thăm khám trực tràng, họ sẽ gửi bạn tới bệnh viện để kiểm tra thêm.

Những xét nghiệm khác có thể thực hiện tại bệnh viện

Mặc dù các xét nghiệm sau đây (và những xét nghiệm được liệt kê tại mục Các Xét Nghiệm Tiếp Theo) có thể sử dụng để giúp chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến, bạn không cần thiết phải thực hiện tất cả. Ưu và nhược điểm của mỗi phương pháp đều cần phải được giải thích cho bạn trước khi bạn đồng ý thực hiện bất kỳ xét nghiệm nào trong số đó.  Bác sĩ của bạn có thể báo cho bạn lúc nào và bằng cách nào bạn sẽ có được kết quả xét nghiệm.

Siêu âm thông qua trực tràng (TRUS)

Siêu âm là việc sử dụng sóng âm để xây dựng hình ảnh về một bộ phận bên trong cơ thể.  Để có hình ảnh tuyến tiền liệt, một đầu dò sẽ được đưa vào trực tràng và hình ảnh của tuyến tiền liệt sẽ được đưa lên màn hình.  Việc siêu âm này được sử dụng để đo kích cỡ và tỉ trọng của tuyến tiền liệt.  Cũng có thể lấy một mẫu tế bào (sinh thiết) cùng lúc này, để các chuyên gia xét nghiệm xem xét dưới kính hiển vi (xem dưới đây).  Việc siêu âm có thể gây khó chịu nhưng nó chỉ diễn ra trong ít phút.

Sinh Thiết

Nếu những xét nghiệm ban đầu thông qua trực tràng, xét nghiệm PSA hoặc siêu âm (xem ở trên) cho thấy có khả năng có bệnh ung thư, có thể bạn sẽ được yêu cầu làm xét nghiệm sinh thiết, trong đó, một vài mẫu mô của tuyến tiền liệt (khoảng từ 6-12) sẽ được lấy ra để được xem xét dưới kính hiển vi.  Thường thì việc sinh thiết được thực hiện cùng lúc với siêu âm.  Một cái kim sẽ xuyên qua thành trực tràng và đưa vào tuyến tiền liệt.  Xét nghiệm này thường gây sự khó chịu, và đôi lúc gây đau, nhưng nói chung nó không cần gây mê tổng quát.  Người làm xét nghiệm sẽ được cho dùng kháng sinh để chống nhiễm khuẩn.  Trong vòng 24 giờ kể từ khi thực hiện xét nghiệm, cần uống nhiều nước.  Bạn có thể nhận ra là trong một vài tuần, bạn có thể bị chảy máu khi tiểu tiện, đại tiện, hoặc máu có lẫn trong tinh dịch khi có quan hệ tình dục.
Đáng tiếc là, vẫn có những trường hợp xét nghiệm sinh thiết vẫn không tìm ra ung thư trong khi người đó có mang ung thư trong tuyến tiền liệt.  Tỉ lệ này chiếm khoảng 1/5 số nam giới.  Nếu xét nghiệm sinh thiết cho kết quả âm tính, bạn có thể phải làm lại xét nghiệm này (việc xét nghiệm lần này sẽ tìm ra phần lớn những tế bào ung thư đã bỏ sót ở lần xét nghiệm đầu tiên).  Đôi khi, nồng độ PSA sẽ được đo lại vài tháng sau và tiến hành sinh thiết nếu nồng độ PSA bắt đầu tăng cao.

Các xét nghiệm tiếp theo để xác định ung thư tiền liệt tuyến

Nếu xét nghiệm sinh thiết cho thấy có tế bào ung thư hiện diện, một số xét nghiệm khác cần phải được thực hiện để kiểm tra xem liệu khối ung thư đã di căn ra bên ngoài tuyến tiền liệt hay chưa.  Các xét nghiệm này bao gồm:

Chụp X-quang

Chụp X-quang lồng ngực và X-quang xương đôi khi cần thiết để kiểm tra sức khỏe tổng quát và để xem liệu ung thư có di căn đến xương và các bộ phận khác trong cơ thể hay không.

Chụp đồng vị xương (Isotope bone scan)

Xương là nơi mà ung thư tư tuyến tiền liệt thường di căn tới.  Việc chụp cắt lớp xương có thể cho thấy những khu vực bất thường ở xương.  Một lượng rất nhỏ [chất lỏng phóng xạ dạng nhẹ mildly radioactive liquid] sẽ được tiêm vào ven, thường là ven cánh tay.  Việc chụp cắt lớp sau đó sẽ được thực hiện trên toàn bộ cơ thể.  Phần xương bất thường sẽ hấp thụ nhiều chất phòng xạ hơn những xương bình thường và sẽ cho thấy trên hình ảnh chụp cắt lớp ở những vùng đậm màu hơn (được gọi là điểm nóng).

Sau khi tiêm chất phóng xạ vào cơ thể, bạn sẽ phải chờ khoảng ba giờ đồng hồ trước khi được chụp cắt lớp, vì vậy, bạn nên đem theo sách hoặc tạp chí để đọc.
Mức độ phóng xạ được sử dụng rất nhỏ, vì vậy không gây hại cho bạn.  Việc chụp cắt lớp này còn giúp tìm ra một số tình trạng khác ảnh hưởng tới xương, ví dụ như viêm khớp.  Vì thế các xét nghiệm tiếp theo, ví dụ như chụp X-quang của những vùng bất thường, có thể cần thiết để xác định là có phải là ung thư không.

Chụp cộng hưởng từ MRI (Magnetic Resonance Imaging)

Xét nghiệm này tương tự như chụp cắt lớp CT nhưng sử dụng từ tính thay vì X-quang để xây dựng hình ảnh cắt lớp từng khu vực trên cơ thể bạn.  Trong suốt cuộc xét nghiệm, bạn sẽ được yêu cầu nằm yên trong một giường chụp đặt bên trong một ống kim loại.  Nó có thể gây một chút khó chịu hoặc một số người sẽ cảm thấy sợ hãi trong quá trình chụp, và quá trình này tạo âm thanh rất ồn.  Bạn sẽ được cho đeo đồ bịt tai hoặc tai nghe. Bạn có thể trở về nhà ngay sau khi đã chụp cắt lớp xong. 

Việc chụp MRI không hề gây đau đớn và có thể kết thúc trong vòng 30phút

Chụp cắt lớp CT (Computerised Tomography)

Chụp cắt lớp CT là việc chụp hàng loạt hình ảnh X-quang của một khu vực trong cơ thể.  Những hình ảnh này sẽ được chuyển vào máy tính để tạo nên hình ảnh chi tiết của một phần bên trong của cơ thể.  Một ảnh chụp cắt lớp CT có thể cho thấy liệu ung thư đã di căn tới những mô xung quanh tiền liệt tuyến hay vào các hạch bạch huyết gần tuyến tiền liệt.

Việc chụp cắt lớp mất khoảng từ 10 – 30 phút.  Bạn có thể được cho uống hoặc được tiêm chất cảm quang cho phép nhìn rõ các khu vực đặc biệt.

Bạn có thể trở về nhà ngay sau khi thực hiện xét nghiệm này.

Thăm khám bằng ống dò bàng quang

Thăm khám bằng ống dò bàng quang mềm có thể thực hiện để nhìn vào bên trong lòng ống dẫn tiểu và bàng quang.  Một ống dò mảnh co dãn được có gắn đèn được đưa vào ống dẫn tiểu thông qua đầu dương vật để vào bàng quang.

Thăm khám bằng ống dò bàng quang cứng sử dụng ống mảnh nhưng cứng.  Nếu tuyến tiền liệt xoắn quanh ống dẫn tiểu và tạo nên đoạn nghẽn, một vài nội phần của tuyến tiền liệt có thể được cắt bỏ để phá bỏ khối tắc nghẽn (xem phần TURP ở phần Phẫu Thuật).  Thuốc gây tê tại chỗ được sử dụng để gây tê niệu đạo.  Nếu thực hiện phẫu thuật TURP, việc gây tê cột sống sẽ được thực hiện.

Phải mất vài ngày cho tới hai tuần để có kết quả của xét nghiệm này.  Việc chờ đợi kết quả của xét nghiệm là một thời gian khó khăn và bạn có khả năng phải cần đến sự trợ giúp của gia đình hoặc của một tổ chức hỗ trợ.  Kết quả của xét nghiệm sẽ cho thấy ung thư của bạn ở mức độ và giai đoạn nào.  Thông tin này sẽ được bác sĩ sử dụng để quyết định phương thức điều trị thích hợp nhất.

Đánh giá mức độ và giai đoạn của ung thư tiền liệt tuyến

Đánh giá mức độ

Đánh giá mức độ dựa vào sự hiện diện của các tế bào ung thư khi mẫu sinh thiết được quan sát dưới kính hiển vi.  Mức độ của ung thư sẽ cho bạn một hình dung về việc ung thư có thể phát triển ở mức độ nào.  Có một số hệ thống đánh giá mức độ, nhưng hệ thống Gleason thường được sử dụng.  Hệ thống này quan sát các tế bào ung thư được sắp xếp như thế nào trong tuyến tiền liệt và đánh giá mức độ của ung thư từ 3 – 5. 

Hai kiểu mẫu điển hình nhất của sự phát triển ung thư trong tuyến tiền liệt sẽ được đánh giá và cộng mức độ của chúng với nhau để cho ra mức độ tổng quát từ 6–10.
Chỉ số Gleason càng thấp, mức độ ung thư càng thấp.  Các ung thư ở mức độ thấp (6) là những ung thư phát triển chậm và ít có khả năng lan rộng.  Chỉ số 7 là chỉ số trung bình.  Chỉ số cao (8 – 10) có thể phát triển nhanh hơn và có khả năng lan rộng hơn.

Đánh giá giai đoạn

Giai đoạn của ung thư là một thuật ngữ sử dụng để mô tả độ lớn và cho thấy liệu ung thư đã lan ra khỏi bộ phận ban đầu của nó trong cơ thể hay chưa.

Biết được giai đoạn của ung thư và mức độ của nó sẽ giúp các bác sĩ quyết định phác đồ điều trị thích hợp nhất.  Có một vài hệ thống đánh giá giai đoạn của ung thư tuyến tiền liệt, và một trong số hệ thống đó được mô tả như sau:

  • T1 – khối u còn nằm nguyên trong tuyến tiền liệt và còn rất nhỏ để có thể xác định được bằng việc thăm khám trực tràng, nhưng có thể tìm thấy được qua xét nghiệm PSA, bằng sinh thiết (xem phần Chẩn Đoán), hoặc thực hiện TURP (xem phần Phẫu Thuật).  Thường là không có triệu chứng gì.
  • T2 – khối u vẫn còn nằm trong tuyến tiền liệt nhưng đã đủ to để có thể cảm thấy bằng việc thăm khám trực tràng hoặc xuất hiện khi siêu âm.  Thông thường cũng không có triệu chứng gì.
  • T3/T4 – ung thư đã di căn ra bên ngoài tuyến tiền liệt sang các mô xung quanh.

Khối u ở giai đoạn T1 và T2 được gọi là ung thư tuyến tiền liệt địa phương (localised prostate cancer) (cũng được gọi là ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn đầu).

Khối u ở giai đoạn T3 và T4 được biết đến như là ung thư tiền liệt tuyến ở giai đoạn phát triển nhưng chưa di căn (locally advanced prostate cancer.)

Nếu hạch bạch huyết, xương và các phần khác của cơ thể bị ảnh hưởng, chúng được gọi là ung thư di căn hoặc ung thư tiền liệt tuyến có ung thư thứ cấp, hoặc ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn phát triển.

Nguồn: CancerBACUP
Cập nhật ngày: 08/01/2006

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

Lựa chọn phương pháp điều trị

Không phải lúc nào cũng có thể quyết định ngay phương pháp điều trị tối ưu cho ung thư tuyến tiền liệt và có một số yếu tố phải cân nhắc để quyết định.  Các yếu tố quan trọng đó là:

  • Sức khỏe chung của bạn
  • Mức độ và giai đoạn của ung thư tuyến tiền liệt
  • Ung thư đã di căn ra bên ngoài tuyến tiệt liệt chưa
  • Nồng độ PSA
  • Các hiệu ứng phụ của quá trình điều trị có thể xảy ra
  • Quan điểm của bạn về hiệu ứng phụ của quá trình điều trị và khả năng chấp nhận bạn với những rủi ro có thể có để đổi lấy việc kiểm soát được ung thư
  • Tuổi của bạn

Các biện pháp điều trị có thể sử dụng cho trường hợp của bạn có thể sẽ được một nhóm bác sĩ cùng hội chẩn.  Nhóm này được gọi là [multidisciplinary team ] và gồm bác sĩ phẫu thuật (bác sĩ phẫu thuật niệu) và các bác sĩ chuyên khoa xạ trị, điều trị nội tiết tố và hóa trị liệu (bác sĩ chuyên khoa ung thư). Nhóm bác sĩ này cũng sẽ bao gồm chuyên gia hộ lý, những người hoạt động xã hội, và các chuyên gia tâm lý trị liệu.

Ý kiến tham khảo

Một số người cũng thấy rất có ích trong việc tham vấn ý kiến của một bác sĩ khác sẽ giúp họ quyết định về phương pháp điều trị cho họ.  Các bác sĩ sẽ giới thiệu họ lấy ý kiến của một bác sĩ khác nếu bạn thấy điều đó là cần thiết.

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN
GIAI ĐOẠN ĐẦU

Các phương pháp điều trị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn đầu bao gồm:

  • Nghiên cứu tích cực (theo dõi tích cực)
  • Phẫu thuật (tách bỏ tuyến tiền liệt)
  • Xạ trị (tia từ bên ngoài hoặc tia cô lập từ bên trong brachytherapy)
  • Liệu pháp nội tiết tố
  • Chờ đợi có theo dõi sát sao

Việc kết hợp các phương thức điều trị có thể áp dụng để đem lại kết quả cao nhất.
Nếu ung thư tiền liệt tuyến được phát hiện ở giai đoạn đầu (khi nó vẫn còn nằm hoàn toàn trong tuyến tiền liệt), và chưa gây nên bất cứ triệu chứng gì thì có thể không cần phải áp dụng bất kỳ biện pháp điều trị nào.  Điều đó là bởi vì ung thư tuyến tiền liệt thường phát triển rất chậm và một khối ung thư nhỏ có thể không bao giờ gây bất kỳ vấn đề gì trong suốt quãng đời con người.  Việc điều trị ung thư có thể gây các hiệu ứng phụ, ví dụ như bất lực hoặc không kiểm soát được tiểu tiện, mà những hệ quả này đối với một số người còn tệ hơn là những tác động của bệnh ung thư.

Nếu bạn được khuyên không cần thiết phải có bất kỳ biện pháp điều trị nào, bạn sẽ được đề nghị nghiên cứu tích cực (theo dõi tích cực) hoặc chờ đợi có theo dõi sát sao.
Nghiên cứu tích cực được áp dụng cho những người trẻ tuổi, và thích hợp với những người mắc ung thư giai đoạn đầu. Điều đó có nghĩa là sẽ được làm xét nghiệm PSA thường xuyên (và xét nghiệm sinh thiết tuyến tiền liệt thường xuyên) để xem liệu ung thư có bắt đầu phát triển chưa. Mục đích của việc nghiên cứu tích cực là nhằm tìm ra những người mang ung thư có sự phát triển nhanh, để giúp họ có biện pháp chữa trị căn bệnh của mình. Với những người mà ung thư lớn lên hoặc không phát triển có thể tiếp tục theo dõi một cách an toàn. Việc nghiên cứu tích cực có thể cho phép việc điều trị bằng cách phẫu thuật hoặc xạ trị cho những bệnh nhân chỉ khi họ cần tới các biện pháp này.

Chờ đợi có theo dõi sát là biện pháp sử dụng xét nghiệm PSA để theo dõi những bệnh nhân lớn tuổi hơn, hoặc những người có những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, và không thể chữa trị bằng phẫu thuật hoặc xạ trị.  Nếu triệu chứng phát triển do sự phát triển của ung thư, thuốc hoặc các biện pháp chữa trị khác có thể được áp dụng để kiểm soát các triệu chứng nhưng không nhằm mục đích chữa khỏi ung thư.
Ung thư tuyến tiền liệt thường phát triển rất chậm và đa số đàn ông mắc ung thư này có thể sống cuộc sống bình thường cho tới cuối đời mà không gây bất kỳ vấn đề gì cho họ.

Lựa chọn biện pháp điều trị

Phẫu thuật tuyến tiền liệt (cắt bỏ hoàn toàn tuyến tiền liệt) hoặc xạ trị tuyến tiền liệt có thể được sử dụng.  Những biện pháp điều trị này nhằm mục đích loại bỏ toàn bộ các tế bào ung thư và chữa trị bệnh ung thư.  Nam giới trẻ hoặc những người có bệnh ung thư phát triển trung bình hoặc nhanh thường được đề nghị phẫu thuật hoặc xạ trị.  Đối với một số người các phương pháp điều trị này sẽ chữa được ung thư, nhưng với một số người, tế bào ung thư có thể vẫn còn sau khi điều trị.  Đối với một số người, việc điều trị dường như lấy hết tất cả tế bào ung thư ra khỏi cơ thể trong một thời gian, nhưng ung thư có thể sẽ lại hiện diện trong tương lai.

Đối với những người đàn ông có ung thư tiền liệt tuyến ở giai đoạn đầu, phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt hoặc xạ trị (tuyến tiền liệt) dường như có hiệu quả tương đương nhau cho việc điều trị ung thư.  Xạ trị có thể được đưa vào cơ thể từ máy điều trị từ bên ngoài hoặc điều trị phóng xạ cô lập từ bên trong brachytherapy.

Tuy nhiên, mỗi biện pháp điều trị đều có những lợi ích riêng cũng như hiệu ứng phụ.  Vì vậy, bạn có thể được đề nghị lựa chọn biện pháp điều trị. Phẫu thuật tuyến tiền liệt được đề cập tới ở phần Phẫu thuật, điều trị bằng tia phóng xạ ngoại và điều trị bằng tia phóng xạ cô lập từ bên trong brachytherapy – Xạ Trị. Biện pháp điều trị nội tiết tố sẽ được đề nghị sau khi phẫu thuật hoặc xạ trị. Nhưng nó cũng có thể là biện pháp điều trị duy nhất.  Biện pháp điều trị nội tiết tố sẽ được bàn tới ở mục Điều trị nội tiết tố.
Bác sĩ của bạn sẽ giải thích các lợi ích cũng như những bất lợi và hiệu ứng phụ của các biện pháp điều trị có thể xảy ra cho bạn.  Sau đó, bạn có thể lựa chọn biện pháp nào là tốt nhất cho trường hợp và hoàn cảnh đặc thù của mình.  Lợi ích và các điểm bất lợi của các biện pháp điều trị ung thư giai đoạn đầu được tóm tắt ở bảng dưới đây.

Lợi ích và các điểm bất lợi của các biện pháp điều trị ung thư giai đoạn đầu

Nghiên cứu tích cực (theo dõi tích cực) 

Lợi ích: Có thể tránh việc điều trị không cần thiết và không có bất kỳ hiệu ứng phụ nào. Nhằm mục đích xác định người nào cần và người nào không cần điều trị. Không ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. 

Bất lợi: Mặc dù bạn được theo dõi chặt chẽ, bạn sẽ vẫn cảm thấy lo lắng về việc khối ung thư có thể phát triển nhanh hoặc di căn. Giai đoạn sau có thể vẫn cần phải áp dụng biện pháp điều trị.

Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt 

Lợi ích: Bệnh ung thư có thể chữa trị dứt điểm. Theo dõi bằng xét nghiệm PSA có thể kiểm tra được việc xuất hiện trở lại của tế bào ung thư sau khi phẫu thuật 

Bất lợi: Việc phẫu thuật có thể là quá muộn nếu ung thư đã di căn. Cần phải nằm viện một tuần trước khi phẫu thuật và khoảng sáu tuần để hồi phục. Mệt mỏi sau phẫu thuật. Rủi ro về bất lực (trên 80%). Rủi ro của việc không kiểm soát được tiểu tiện (hơn 40% có tình trạng này tạm thời, và khoảng 20% kéo dài). Nguy cơ không cao đối với việc đại tiện/ tiêu chảy  (dưới 10%). Nguy cơ tử vong liên quan đến phẫu thuật (tỉ lệ 1/500).

Điều trị tia xạ từ bên ngoài 

Lợi ích: Bệnh ung thư có thể chữa trị dứt điểm. Theo dõi bằng xét nghiệm PSA có thể kiểm tra được việc xuất hiện trở lại của tế bào ung thư sau điều trị (mặc dù bác sĩ sẽ khó khăn hơn trong việc đọc kết quả so với phẫu thuật). Không liên quan đến phẫu thuật – không bị mất máu. Không cần gây tê 

Bất lợi: Cần phải đến bệnh viện mỗi ngày trong tuần trong vòng từ 6 đến 7 tuần để điều trị. Mệt mỏi trong và sau quá trình điều trị (có thể kéo dài trong vài tháng). Có thể xuất hiện tiêu chảy, viêm bàng quang thường xảy ra trong thời gian điều trị và một khoảng thời gian ngắn sau khi điều trị (khoảng 70%). Có khả năng làm tổn thường lâu dài cho bóng đái và trực tràng (2-5%).

Nguồn: CancerBACUP
Cập nhật: 08/01/2006

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN
GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN NHƯNG CHƯA DI CĂN

Đa số các ung thư ở giai đoạn phát triển nhưng chưa di căn có thể kiểm soát được trong vòng nhiều năm bằng liệu pháp nội tiết tố, xạ trị cho tuyến tiền liệt và khu vực xung quanh hoặc kết hợp cả hai liệu pháp này. Một số ung thư ở giai đoạn phát triển nội tại có thể chữa trị được hoặc tiêu diệt hoàn toàn.

Ơ nam giới lớn tuổi không có triệu chứng của ung thư, hoặc với những người có các vấn đề sức khỏe khác, lựa chọn tốt nhất có thể là không áp dụng biện pháp chữa trị nào (nhưng tiếp tục theo dõi thường xuyên bằng xét nghiệm PSA) và kiểm soát các biểu hiện triệu chứng. Việc làm này được gọi là chờ đợi có theo dõi sát và là một phương pháp thông thường để đối phó với ung thư ở giai đoạn phát triển nội tại.  Phương pháp này được áp dụng vì sự phát triển của khối ung thư có thể rất chậm và không đáng để bắt cơ thể chịu đựng những hiệu ứng phụ có thể xảy ra do quá trình điều trị.

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN
THEO DÕI TÍCH CỰC

Theo dõi tích cực có nghĩa là bác sĩ của bạn sẽ để mắt tới bạn. Các xét nghiệm máu và sinh thiết ngày nay có thể giúp tìm ra ung thư  ngay từ giai đoạn đầu, nhưng không thể kết luận liệu ung thư có phát triển nhanh đến độ có thể gây ra bất kỳ triệu chứng gì.  Hầu hết các ung thư tuyến tiền liệt phát triển chậm đến độ chúng không bao giờ gây ra bất kỳ vấn đề gì trong cả cuộc đời của người bệnh.  Mọi phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt đều có hiệu ứng phụ và đối với một số người, các hiệu ứng phụ từ quá trình điều trị, như chứng bất lực hoặc không kiểm soát được tiểu tiện, có thể còn tồi tệ hơn những vấn đề mà ung thư tuyến tiền liệt có thể gây ra.

Vì thế, khi được chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt, các bác sĩ của bạn thường khuyên bạn nên đợi để xem liệu ung thư này là loại có thể gây ra vấn đề, hơn là việc áp dụng ngay một biện pháp điều trị.

Nếu bạn được đề nghị nghiên cứu tích cực, bạn sẽ được làm xét nghiệm máu mỗi 1 – 3 tháng để theo dõi nồng độ PSA và thăm khám trực tràng (direct rectal examination), và sẽ được hỏi về việc xuất hiện những triệu chứng mới.  Bạn cũng có thể thường xuyên được làm xét nghiệm sinh thiết.  Nếu những xét nghiệm định kỳ này cho thấy khối ung thư bắt đầu phát triển, bác sĩ của bạn sẽ khuyên bạn áp dụng biện pháp điều trị để chữa trị ung thư, ví dụ như phẫu thuật hoặc xạ trị.

Một vài nghiên cứu đang được thực hiện để xem liệu việc theo dõi cao độ hơn có giúp ích gì không.  Việc theo dõi này bao gồm cả việc làm xét nghiệm sinh thiết mỗi hai năm, cũng như các xét nghiệm PSA và thăm khám trực tràng bằng đầu dò kỹ thuật số thường xuyên.

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN BẰNG PHẪU THUẬT

Phẫu thuật có thể là một lựa chọn điều trị cho bạn, phụ thuộc vào loại, kích cỡ và mức độ lây lan của khối ung thư.  Trước bất kỳ cuộc phẫu thuật nào, bạn phải chắc là đã trao đổi đầy đủ với bác sĩ của mình.  Điều quan trọng là bạn hiểu điều gì sẽ liên quan đến cuộc phẫu thuật này, khả năng thành công, những hiệu ứng phụ có thể xảy ra, và liệu có còn lựa chọn khác có thể phù hợp hơn với trường hợp cụ thể của bạn.
Phần này sẽ trình bày ba hình thức phẫu thuật được sử dụng để điều trị ung thư tiền liệt tuyến, tại sao phải làm điều đó và chúng liên quan đến điều gì.

Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt

Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt là một lựa chọn điều trị đối với ung thư giai đoạn sớm.  Phẫu thuật này sẽ do các bác sĩ phẫu thuật chuyên khoa thực hiện.  Toàn bộ tuyến tiền liệt sẽ được phẫu thuật cắt bỏ bằng việc mổ hở ở bụng hoặc mổ hở ở khu vực giữa bìu tinh hoàn và trực tràng. Việc phẫu thuật này nhằm loại bỏ toàn bộ các tế bào ung thư. Việc phẫu thuật này chỉ được làm khi ung thư được xem là chưa phát tán ra khỏi tuyến tiền liệt và thông thường là với những người dưới 70 tuổi.
Việc phẫu thuật thường gây nên bất lực tình dục (mất khả năng hoặc không duy trì được trạng thái cương cứng).  Đôi khi cũng có thể thực hiện một số kỹ thuật phẫu thuật đặc biệt, gọi là kỹ thuật phẫu thuật tinh hoàn bảo vệ tế bào thần kinh (nerve-sparing prostatectomy), là phẫu thuật có thể giúp giảm nguy cơ bị chứng bất lực.  Việc phẫu thuật cũng có thể gây ra vấn đề cho việc kiểm soát tiểu tiện.

Vì các bác sĩ không thể dự đoán trước được người nào sẽ chịu tác động của hiệu ứng phụ nào, nên điều quan trọng là bạn phải biết về các hiệu ứng phụ này trước khi phẫu thuật.  Bác sĩ của bạn sẽ trao đổi về cuộc phẫu thuật, những hiệu ứng phụ có thể xảy ra và các lựa chọn biện pháp điều trị khác có thể thực hiện cho bạn.

Mặc dù việc phẫu thuật có thể loại bỏ các tế bào ung thư hoàn toàn cho rất nhiều người, nhưng cứ ba người đàn ông được phẫu thuật thì có một người (tỉ lệ 33%) các tế bao ung thư tái xuất hiện ở khu vực của tuyến tiền liệt một thời gian sau khi phẫu thuật.  Chiếu xạ từ bên ngoài có thể được đưa tới khu vực tuyến tiền liệt.  Tuy nhiên, liều lượng của việc chiếu xạ có thể sử dụng được trong trường hợp này sẽ thấp hơn so với những người được điều trị bằng xạ trị như là phương pháp điều trị đầu tiên.  Việc điều trị cũng có thể diễn ra trên một vùng rộng hơn của cơ thể, và có thể gây ra nhiều hiệu ứng phụ hơn nữa.

Sau khi phẫu thuật

Sau khi phẫu thuật tuyến tiền liệt, bạn sẽ được truyền tĩnh mạch ở ven tay và và được thông tiểu tại bàng quang.  Nếu phẫu thuật ở bụng, bạn sẽ có một vết mổ ở vùng bụng.  Bạn có thể được gắn một ống để hút dịch từ vết thương này.  Sau phẫu thuật, bạn có thể có một số cơn đau hoặc khó chịu kéo dài trong vài tuần, đặc biệt khi bạn đi lại.  Việc sử dụng thuốc giảm đau có thể giúp làm thuyên giảm các hiện tượng này, vì vậy, bạn phải thông báo với các nhân viên y tế biết nếu bạn vẫn tiếp tục bị đau.
Bạn có thể trở về nhà khoảng một tuần cho đến mười ngày sau khi mổ.  Ong thông tiểu có thể được giữ lại từ 1 – 3 tuần để niệu đạo lành vết thương.  Nếu bạn có bất kỳ vấn đề gì, bạn phải liên hệ với bác sĩ của mình ngay lập tức.

Hiệu ứng phụ của điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt

Phẫu thuật tuyến tiền liệt có thể dẫn đến những vấn đề trong việc cương cứng (bất lực tình dục) và việc điều khiển bàng quang.  Nguyên nhân của chứng bất lực là do sự suy giảm của lượng máu đến dương vật do những tổn thương gây ra cho các mạch máu và tế bào thần kinh.  Thông thường việc loại bỏ toàn bộ các tế bào ung thư không thể tránh khỏi sự tổn thương tế bào thần kinh.  Rủi ro về chứng bất lực sau khi phẫu thuật có thể chiếm tỉ lệ 50% hoặc cao hơn nữa với nam giới dưới 60 tuổi là những người đã từng được [phẫu thuật tinh hoàn bảo vệ tế bào thần kinh nerve-sparing prostatectomy]. Rủi ro tăng lên 80% hoặc hơn nữa với nam giới trên 70 tuổi và tỉ lệ này còn cao hơn nữa với những người nếu kỹ thuật [phẫu thuật tinh hoàn bảo vệ tế bào thần kinh nerve-sparing] không được ứng dụng.

Vấn đề điều khiển bàng quang do việc phẫu thuật thường ít gặp hơn.  Đa số nam giới gặp triệu chứng này khi mới tháo ống thông tiểu, nhưng tình hình sẽ tiến triển khá hơn theo thời gian.  Trong vòng một năm sau ngày phẫu thuật, khoảng 45% nam giới sẽ đôi lúc bị gỉ một giọt nước tiểu, một vài người phải đeo túi đựng nước tiểu và rất ít người sẽ hoàn toàn không kiểm soát được bàng quang và phải sử dụng ống thông tiểu vĩnh viễn. Một hiệu ứng ít gặp nữa của việc phẫu thuật là [scarring of the bladder] là triệu chứng có thể ảnh hưởng đến việc thông tiểu tiện.  Triệu chứng này có thể dễ dàng chữa khỏi với một phẫu thuật TURP. Một vài nam giới có thể sẽ bị tiêu chảy hoặc táo bón một vài tháng sau khi phẫu thuật.

Phẫu Thuật Nội Soi (Laparoscopic prostatectomy)

Các cuộc nghiên cứu đang được thực hiện để đánh giá liệu phẫu thuật nội soi có đạt hiệu quả tương tự như phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt cho người bị ung thư tuyến tiền liệt ở giai đoạn đầu hay không.  Khối ung thư tuyến tiền liệt được đưa ra khỏi cơ thể thông qua một lỗ nhỏ được mở ở thành bụng, sử dụng một ống mảnh có gắn đèn và dụng cụ cắt ở một đầu.  Phẫu thuật nội soi chỉ có thể thực hiện được bởi những nhà phẫu thuật đã qua đào tạo chuyên biệt về kỹ thuật này.

Phẫu thuật tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo (TURP)

Phẫu thuật tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo được thực hiện nếu cần thiết phải lấy đi một phần của khối u chèn lên ống dẫn tiểu (là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang).  Một ống mang kính hiển vi thu nhỏ sẽ được đưa vào ống dẫn tiểu, tương tự như qui trình làm xét nghiệm sinh thiết (xem dưới đây).  Một dụng cụ cắt được gắn vào ống này và lúc đó sẽ được sử dụng để bào mỏng khu vực bên trong của tuyến tiền liệt để gỡ bỏ khối u gây chèn ép.

Việc phẫu thuật này có thể thực hiện khi người bệnh được gây mê tổng quát hoặc gây tê ngoài màng cứng.  Với việc gây tê ngoài màng cứng, phần cơ thể phía dưới của người bệnh sẽ tê liệt tạm thời bằng việc chích thuốc tê vào cột sống để bạn không cảm thấy bất cứ điều gì ngay cả khi bạn tỉnh táo.

Tiến trình này không thể cắt bỏ toàn bộ khối ung thư trong tuyến tiền liệt và chỉ sử dụng nhằm giải quyết vấn đề thông tiểu.

Sau phẫu thuật tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo

Sau phẫu thuật, bạn có thể rời khỏi giường bệnh vào ngày hôm sau. Sau phẫu thuật tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo, bạn có thể được gắn một ống truyền dịch vào ven.  Ong truyền dịch này sẽ được gỡ bỏ khi bạn đã có thể uống được bình thường.  Một ống (ống thông tiểu) sẽ dẫn dịch từ bàng quang của bạn đến một túi chứa.  Thông thường nước tiểu của bạn có thể lẫn máu.

Để ngăn những khối máu đông chèn ống thông tiểu, có thể áp dụng việc súc bàng quang.  Điều này có nghĩa là dịch truyền đến bàng quang sẽ được đưa ra ngoài bằng ống thông tiểu.  Cuối cùng thì nước tiểu cũng hết lẫn với máu và ống thông tiểu có thể được rút ra.  Ban đầu, bạn có thể gặp khó khăn trong việc tiểu tiện mà không có ống thông tiểu.  Một vài người gặp hiện tượng không kiểm soát được tiểu tiện sau quá trình này.  Việc đặt ống thông tiểu cũng có thể gây khó khăn lâu dài cho việc tiểu tiện. 

Đôi khi việc duy trì ống thông tiểu thêm một thời gian là cần thiết sau khi bạn đã trở về nhà.  Trước khi rời bệnh viện, y tá sẽ hướng dẫn bạn theo dõi ống thông tiểu.

Bạn có thể gặp một vài cơn đau hoặc khó chịu một vài ngày sau phẫu thuật, và bạn có thể được cho sử dụng thuốc giảm đau.  Thuốc giảm đau thường rất có hiệu quả, nhưng nếu bạn vẫn tiếp tục có cơn đau thì bạn phải báo cho bác sĩ hoặc y tá chăm sóc mình thật sớm để có thể tìm ra loại thuốc giảm đau hiệu quả hơn cho mình.

Đa số bệnh nhân có thể trở về nhà sau từ ba đến bốn ngày nằm viện.

Sau khi phẫu thuật tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo, một số người có thể gặp hiện tượng xuất tinh ngược (retrograde ejaculation).  Hiện tượng này là việc trong quá trình xuất tinh, tinh dịch lại chạy vào bàng quang chứ không phải ra ngoài theo đường niệu đạo, vì vậy nước tiểu sau khi giao hợp sẽ bị đục.

Phẫu thuật tinh hoàn

Mặc dù đây là một phẫu thuật, nhưng mục đích của việc cắt bỏ tinh hoàn là để giảm nồng độ testosterone (hormone sinh dục nam) trong cơ thể, vì vậy, phẫu thuật này sẽ được nêu kỹ trong phần điều trị nội tiết tố.  Do ngày nay đã có nhiều loại thuốc điều trị nội tiết tố, việc phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn không thực hiện thường xuyên

 

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN BẰNG XẠ TRỊ

Phương pháp dùng tia phóng xạ điều trị ung thư là việc sử dụng các tia X mang năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư, trong khi giảm thiểu việc làm hại đến các tế bào bình thường. Xạ trị đối với ung thư tiền liệt tuyến thường được áp dụng từ một máy chiếu bên ngoài, nhưng với những người mắc ung thư giai đoạn đầu thì có thể điều trị bằng việc cấy một vài hạt nhân mang chất phóng xạ vào mô, (xạ trị cô lập từ bên trong brachytherapy). Xạ trị từ bên ngoài và xạ trị cô lập từ bên trong brachytherapy cho thấy hiệu quả tương đương nhau trong việc điều trị ung thư tuyến tiền liệt.

Khi nào biện pháp xạ trị được sử dụng

Đối với những ung thư tuyến tiền liệt ở giai đoạn đầu các tia xạ sẽ được đưa tới mô trong tuyến tiền liệt. Mục đích là nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư trong khi chỉ gây hại chút ít tới các tế bào bình thường nằm xung quanh, ví dụ như bàng quang hoặc trực tràng. Biện pháp này được gọi là xạ trị điều trị tích cực.

Xạ trị cũng có thể áp dụng khi ung thư dã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể, ví dụ như xương.  Trong tình huống này, việc điều trị không thể loại bỏ toàn bộ tế bào ung thư và điều trị ung thư, mà chỉ làm giảm các triệu chứng ví dụ như đau, và làm bạn cảm thấy dễ chịu hơn.  Việc điều trị này được gọi là xạ trị điều trị tạm thời.

Xạ trị từ bên ngoài (External radiotherapy)

Tia phóng xạ sẽ được đưa và cơ thể tại khoa điều trị phóng xạ tại bệnh viện, thông thường là theo đợt điều trị từ thứ hai đến thứ sáu, và cuối tuần sẽ tạm ngừng.  Đối với ung thư tiền liệt tuyến ở giai đoạn đầu, quá trình điều trị có thể kéo dài vài tuần.

Lên kế hoạch điều trị bằng xạ trị

Lên kế hoạch là một phần quan trọng của việc điều trị bằng xạ trị và có thể phải cần một vài lần khám bệnh.  Kế hoạch cần phải được lập kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả tối đa có thể.  Trong lần khám bệnh đầu tiên tại khoa điều trị xạ trị, bạn sẽ được đề nghị làm xét nghiệm chụp cắt lớp CT hoặc nằm bên dưới một chiếc máy được gọi là máy giả lập (simulator), dùng tia x quét qua khu vực sẽ được điều trị.  Việc điều trị sẽ do chuyên gia về ung thư  lên kế hoạch.

Các điểm làm dấu thường được vẽ lên da của bạn để giúp chuyên viên xạ trị (người thực hiện việc điều trị trên cơ thể bạn) đặt bạn đúng vị trí và cho thấy điểm nào các tia sẽ được nhắm tới.  Các điểm làm dấu này sẽ được duy trì trong suốt quá trình điều trị, và người ta có thể làm những dấu vĩnh viễn (như những vết xăm nhỏ).  Những điểm làm dấu này rất nhỏ, và sẽ chỉ được thực hiện nếu được bạn cho phép.  Việc đánh dấu những điểm này có thể gây một chút khó chịu.

Giai đoạn điều trị

Ơ đầu mỗi đợt điều trị, chuyên viên xạ trị sẽ đặt bạn rất cẩn thận lên một chiếc ghế nằm, và đảm bảo là bạn cảm thấy thoải mái.  Trong suốt quá trình điều trị của bạn, bạn sẽ nằm một mình trong căn phòng nhưng bạn có thể nói chuyện với chuyên viên xạ trị đang theo dõi bạn từ căn phòng kế bên.  Điều trị xạ trị không gây đau đớn nhưng bạn phải nằm im trong ít phút trong khi cuộc điều trị được tiến hành.

Xạ trị có định hình tia phóng xạ (conformal radiotherapy) và IMRT

Nhiều trung tâm chuyên khoa ngày nay sử dụng một phương pháp gọi là [xạ trị có định hình tia phóng xạ conformal radiotherapy] (CRT) hoặc [xạ trị có tia xạ được điều chỉnh phù hợp tập trung với độ chính xác cao high-resolution intensity modulated radiotherapy (IMRT)].

Trong điều trị bằng phương pháp xạ trị có định hình tia phóng xạ, một thiết bị đính kèm đặc biệt vào máy chiếu xạ sẽ định hình một cách kỹ càng các chùm tia phóng xạ phù hợp với hình dạng của tuyến tiền liệt.  Định hình chùm tia phóng xạ sẽ làm cho các tế bào khỏe mạnh xung quanh ở những bộ phận xung quanh (như bàng quang và trực tràng) giảm việc chịu sự tác động của tia phóng xạ. Điều này giảm thiểu các hiệu ứng phụ của phương pháp xạ trị và cho phép sử dụng một liều lượng cao hơn với nhiều tác dụng hơn.

IMRT là một kỹ thuật mới hơn, phức tạp hơn của xạ trị có định hình tia phóng xạ và cho phép chuyên viên xạ trị thay đổi liều lượng của chất phóng xạ vào các khu vực khác nhau của khối u và các cơ xung quanh. Hiện tại vẫn chưa biết liệu IMRT có tốt hơn xạ trị có định hình tia phóng xạ thông thường hay không.

Các hiệu ứng phụ nhất thời

Xạ trị đối với khu vực tuyến tiền liệt có thể kích thích trực tràng, và gây khó chịu và có thể gây hiện tượng đại tiện nhiều lần.  Đôi khi nó cũng gây ra tình trạng đau nhức ở hậu môn.  Bác sĩ của bạn có thể cho thuốc để giảm bớt hiện tượng này và khuyên bạn thay đổi chế độ dinh dưỡng. 

Xạ trị cũng có thể gây viêm bàng quang, vốn làm cho bạn cạm thấy muốn tiểu tiền nhiều hơn và gây cảm giác nóng rát khi bạn tiểu tiện.  Bác sĩ của bạn có thể kê đơn thuốc để giảm hiện tượng này.  Hiện tượng này có thể biến mất hoàn toàn vài tuần sau khi việc điều trị kết thúc.  Rất ít khi xảy ra, nhưng nếu bạn cảm thấy khó khăn trong việc tiểu tiện có thể bạn sẽ cần đặt ống thông tiểu.

Xạ trị đối với tuyến tiền liệt có thể gây khó khăn cho việc cương cứng dương vật.  Có nhiều phương pháp điều trị để cải thiện tình trạng này.

Xạ trị cũng có thể là nguyên nhân gây ra một số hiệu ứng phụ chung như mệt mỏi, có thể là nhẹ hoặc gây mệt nhiều, tùy thuộc vào liều lượng chất phóng xạ được sử dụng và thời gian điều trị.  Chuyên gia xạ trị có thể sẽ nói cho bạn biết điều gì sẽ xả ra.  Cố gắng giữ thăng bằng trong việc nghỉ ngơi thường xuyên, luyện tập nhẹ, đặc biệt nếu bạn phải nếu bạn phải di chuyển xa để điều trị mỗi ngày. 

Việc xạ trị cũng có thể làm cho bạn bị rụng lông ở bộ phận sinh dục.  Khi bạn kết thúc quá trình điều trị, lông sẽ có thể mọc lại.  Tuy nhiên, lông có thể sẽ mỏng đi và sợi lông mảnh hơn trước đó.

Đa số các hiệu ứng phụ của quá trình xạ trị sẽ biến mất hoàn toàn khi kết thúc việc điều trị.  Tuy nhiên, một số hiện tượng khác sẽ tiếp tục kéo dài vài tháng và một vài hiện tượng có thể xảy ra lâu dài.  Nếu bạn có vấn đề trong quá trình điều trị, hãy trò chuyện với chuyên viên xạ trị là những người có thể giúp bạn.

Việc điều trị bằng xạ trị không làm bạn trở thành chủ thể phát xạ và hoàn toàn an toàn khi sống chung với người khác, kể cả con cái của bạn, trong suốt quá trình điều trị.
Mặc dù xạ trị có thể loại bỏ được các tế bào ung thư hoàn toàn cho nhiều người, cứ trong 3 người thì có 1 người (30%), tế bào ung thư xuất hiện trở lại ở khu vực tuyến tiền liệt một thời gian sau khi điều trị.  Trong trường hợp này, hiếm khi người ta tiến hành tiếp phẫu thuật để loại bỏ tuyến tiền liệt.  Kiểu phẫu thuật này được gọi là [phẫu thuật ứng phó salvage surgery.]

Các hiệu ứng phụ lâu dài có thể xảy ra

Điều trạ bằng tia phóng xạ đối với khu vực tuyến tiền liệt đôi khi dẫn đến những vấn đề mang tính chất lâu dài.

Xạ trị đối với ung thư tuyến tiền liệt có thể là nguyên nhân gây ra việc mất khả năng cương cứng (bất lực) đối với khoảng 1/3 nam giới điều trị bằng phương pháp này; hiện tượng này có thể kéo dài trong khoảng từ 2 – 5 năm.  Rất khó để giải quyết hiệu ứng phụ này và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống tình dục của bạn và mối quan hệ của bạn với bạn tình.

Ơ một số nam giới, ruột và bàng quang có thể bị ảnh hưởng lâu dài từ quá trình xạ trị.  Các mạch máu ở ruột và bàng quang có thể trở nên mỏng manh hơn và dễ bị xuất huyết trong nước tiểu khi có chuyển động ở ruột.  Hiện tượng này có thể xảy ra trong nhiều năm.  Nếu bạn nhận thấy có sự xuất huyết, bạn cần phải báo cho bác sĩ của mình và bạn sẽ được xét nghiệm và điều trị thích hợp.  Đôi khi việc đại tiện diễn ra thường xuyên sau khi điều trị bằng phóng xạ, và hiếm khi có xảy ra tình trạng khó khăn trong việc điều khiển việc đại tiện.

Thông thường, xạ trị có thể giúp cải thiện những vấn đề về tiểu tiện, nhưng đối với một số người, việc xạ trị có thể làm rò rỉ nước tiểu vì những tổn thất tế bào thần kinh điều khiển các cơ ở bàng quang (mất kiểm soát tiểu tiện).  Điều này hiếm khi xảy ra trừ phi bạn làm phẫu thuật TURP hoặc phẫu thuật tuyến tiền liệt.  Nếu có hiện tượng này xảy ra, bạn cần phải thảo luận điều này với bác sĩ của mình. 

Nếu các tia phóng xạ bị đưa tới các hạch bạch huyết trong khu vực xương chậu cũng như tới tuyến tiền liệt, điều này có thể làm cho chân bị phù, gọi là chứng [lymphoedema].

Xạ trị cô lập bên trong cơ thể Brachytherapy

Cách thức xạ trị này hiện giờ đã có tại một số bệnh viện trên thế giới. Đôi khi, nó được gọi là xạ trị trong cơ thể (internal radiotherapy), phương pháp cấy ghép (implant therapy) hoặc cấy ghép hạt nhân (seed implantation). Nó có thể được thực hiện khi được gây mê tổng quát hoặc gây tê cột sống (gây tê ngoài màng cứng). Các “hạt nhân” bằng kim loại mang chất phóng xạ sẽ được cấy vào khối u để chất phóng xạ được đưa từ từ vào khối u trong một khoảng thời gian. Các hạt nhân này sẽ không được lấy ra, nhưng chất phóng xạ từ từ yếu dần trong vòng một năm và không có nguy cơ gây ảnh hưởng gì đối với những người khác.

Khoảng một tuần trước khi hạt nhân được cấy vào trong tuyến tiền liệt, việc nghiên cứu tuyến tiền liệt sẽ được thực hiện (được gọi là nghiên cứu chuyên sâu).  Việc làm này giúp xác định kích thước và vị trí chính xác của tuyến tiền liệt.  Việc nghiên cứu này được thực hiện tại phòng phẫu thuật và bạn sẽ được gây tê trong một thời gian ngắn.

Người ta dùng siêu âm thông qua trực tràng để chụp ảnh tuyến tiền liệt.  Nó sẽ cung cấp hình ảnh ba chiều của tuyến tiền liệt và hình ảnh này sẽ giúp quyết định bao nhiêu hạt nhân cần cho việc điều trị, và vị trí chính xác mà các hạt nhân này sẽ được cấy vào.  Trong vòng 24 giờ trước lúc nghiên cứu chuyên sâu được tiến hành, bạn sẽ cần phải tuân thủ chế độ ăn uống đặc biệt để đảm bảo trực tràng trống không.  Bạn sẽ được cung cấp dụng cụ để súc sạch trực tràng, và như thế hình ảnh siêu âm có thể rõ ràng đến mức cao nhất.

Vào ngày trước khi các hạt nhân được cấy vào cơ thể, bạn cũng sẽ cần phải ăn uống theo chế độ đặc biệt và súc ruột để làm sạch trực tràng.  Việc cấy ghép sẽ diễn ra trong khoảng 1 giờ đồng hồ.  Một đầu dò siêu âm sẽ được đưa vào trực tràng để hiện rõ tuyến tiền liệt.  Sau đó, khoảng 80 – 100 hạt nhân mang chất phóng xạ sẽ được đưa vào cơ thể qua lớp da ở vị trí giữa tuyến tiền liệt và hậu môn và được dẫn vào tuyến tiền liệt.  Tiến trình này có thể dẫn tới việc bị phù trong tuyến tiền liệt có thể làm tắc nghẽn niệu đạo, vì vây có thể phải đặt ống thông tiểu vào bàng quang để dẫn tiểu. Ống thông tiểu có thể được tháo ra khoảng 2 giờ hoặc để qua đêm.

Sau khi cấy ghép, bạn sẽ được cho uống kháng sinh để tránh bị nhiễm trùng.  Đa số bệnh nhân có thể về nhà một ngày sau khi cấy ghép, nhưng một vài trường hợp cần phải ở lại bệnh viện cho đến khi họ bình phục từ việc bị gây mê/ gây tê và có thể tiểu tiện bình thường.  Sau khi cấy ghép, tránh mang vác nặng hoặc những hoạt động thể chất tích cực trong vòng hai cho đến ba ngày.

Toàn bộ chất phóng xạ đều đi vào tuyến tiền liệt và vì vậy, nó hoàn toàn an toàn cho bạn cũng như những người xung quanh bạn.  Tuy nhiên, phụ nữ mang thai hoặc trẻ em không nên ở sát cạnh bạn quá lâu.  Bạn không nên để trẻ em ngồi trong lòng mình, nhưng có thể ôm hoặc bế chúng trong vài phút mỗi ngày và trẻ em có thể an toàn khi ở cùng trong phòng với bạn.

Các hạt nhân nằm ổn định tại tuyến tiền liệt, nhưng cũng có một chút xíu nguy cơ là một hạt nhân có thể sẽ thoát ra cùng với tinh dịch trong khi có hoạt động tình dục.  Vì vậy, chúng tôi khuyên bạn nên sử dụng bao cao su cho một vài tuần đầu sau khi cấy ghép.  Trong thời gian này, tinh dịch có thể sẽ có màu đen hoặc nâu, điều này là bình thường và xảy ra do việc có thể có sự chảy máu trong quá trình cấy ghép.  Bao cao su cần phải được vứt trong sọt rác và phải được gói bọc 2 lần.

Hiệu ứng phụ của xạ trị cô lập bên trong (brachytherapy)

Xạ trị cô lập bên trong Brachytherapy cũng là nguyên nhân gây ra các hiệu ứng phụ tương tự như với tia chiếu phóng xạ từ bên ngoài (như được nêu ở phần trên).  Thông thường, bạn có thể cảm thấy đau nhẹ, một vài vết bầm hoặc thâm ở vùng giữa hai chân một vài ngày sau khi tiến hành xạ trị này.  Bác sĩ có thể sẽ cho bạn uống thuốc giảm đau nhẹ để điều trị triệu chứng này.

Bạn cũng có thể thấy có máu trong nước tiểu.  Điều này thường xảy ra, tuy nhiên vấn đề sẽ nghiêm trọng nếu như có những cục máu lớn xuất hiện trong nước tiểu và bạn phải thông báo cho bác sĩ ngay lập tức.  Điều quan trọng là bạn phải uống nhiều nước để ngăn chặn hiện tượng máu cục và rửa sạch bàng quang.

Brachytherapy có thể ít gây ra các hiệu ứng đối với đường ruột hơn là xạ trị từ bên ngoài, mặc dù, những rủi ro về việc tiểu tiện (ví dụ như làm thu hẹp niệu đạo) lại cao hơn.  Khoảng gần 1/7 số nam giới không thể tiểu tiện được ngay sau khi thực hiện việc xạ trị này và cần phải đặt ống thông tiểu trong một thời gian.  Một số người gặp hiện tượng niệu đạo bị thu hẹp một thời gian sau đó dẫn tới việc khó khăn trong tiểu tiện.
Cũng như xảy ra với việc điều trị phóng xạ từ bên ngoài, chứng bất lực có thể ảnh hưởng khoảng 50% số bệnh nhân trong vài năm sau khi điều trị.

Một vài người cảm thấy đau hoặc khó chịu khi đi tiểu, muốn đi tiểu nhiều hơn bình thường và dòng nước tiểu yếu hơn.  Điều này thường là do chất phóng xạ trong các hạt nhân nằm trong tuyến tiền liệt và tình trạng sẽ được cải thiện trong vòng từ 3 – 12 tháng sau đó vì các hạt nhân mật dần tính chất phóng xạ.  Uống nhiều nước và tránh dùng các chất caffeine có thể giúp giảm các hiệu ứng này.

Xạ trị để điều trị triệu chứng

Nếu khối ung thư trong tuyến tiền liệt đã lan ra đến xương, người ta vẫn điều trị bằng tia phóng xạ để giảm đau.  Việc điều trị này được áp dụng cho các vùng xương bị ảnh hưởng.  Đây có thể là một liều điều trị duy nhất, hoặc có thể là một chuỗi các cuộc điều trị nhỏ hơn.  Nhiều người nhận thấy là các cơn đau dịu lại trong vòng một vài ngày, trong khi những người khác phải mất đến ba hoặc bốn tuần. Các loại thuốc giảm đau có thể được cấp để uống thường xuyên nếu cần thiết.

Nhân viên chiếu xạ sẽ giải thích cho bạn về quá trình điều trị và các hiệu ứng phụ mà bạn có thể gặp trước khi điều trị.

Nếu các tế bào ung thư nằm rải rác nhiều nơi trong cơ thể, bạn có thể được điều trị bằng cách thức được gọi là chiếu xạ bán thân (semibody irradiation).  Việc chiếu xạ sẽ được thực hiện trên diện rộng, từ đầu cho đến hết nửa thân trên của cơ thể.  Kiểu điều trị này có thể làm giảm đau hiệu quả trong vòng vài ngày sau khi điều trị.  Tuy nhiên, hiệu ứng phụ của cách điều trị này có thể lớn hơn so với điều trị tại từng khu vực.  Bác sĩ của bạn sẽ kê toa để bạn uống thuốc chống mệt và bạn sẽ cần phải nằm lại bệnh viện trong thời gian ngắn. Nếu cần thiết, phần nửa cơ thể còn lại của bạn cũng sẽ được điều trị sau đó, một khi các hiệu ứng phụ đã giảm bớt.

Điều trị với Strontium 89

Việc điều trị này áp dụng cho ung thư thứ cấp ở xương trong đó sử dụng nguyên liệu phóng xạ (đồng vị phóng xạ) gọi là Strontium 89, được các khu vực bị ung thư trong xương thẩm thấu.  Nó đặc biệt hữu hiệu nếu có nhiều khu vực của xương bị ảnh hưởng và gây đau.  Chất đồng vị được đưa vào cơ thể bằng cách tiêm vào ven ở cánh tay; việc này thường được thực hiện tại khu khám bệnh ngoại trú.  Sau khi tiêm/chích, trong nước tiểu sẽ xuất hiện một lượng nhỏ chất phóng xạ, vì vậy, bệnh nhân được khuyên sử dụng toilet có thể xả nước thay vì dùng bô để giảm thiểu nguy cơ cho bất kỳ người nào khác bị ảnh hưởng bởi hiện tượng phóng xạ.

Các nhân viên bệnh viện sẽ thảo luận kỹ các điều cần đặc biệt thận trọng trước khi bạn về nhà.  Lượng chất phóng xạ được đưa vào cơ thể rất nhỏ và an toàn cho bạn cũng như những người khác, bao gồm cả trẻ em.  Đa số bệnh nhân cảm thấy một số hiệu quả từ việc điều trị này trong vòng vài tuần, mặc dù đôi khi các cơn đau có thể gia tăng chút ít trước khi nó giảm đi.

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT
BẰNG PHƯƠNG PHÁP NỘI TIẾT

Tại sao lại dùng phương pháp điều trị nội tiết tố

Hormone là những chất tự nhiên có trong cơ thể.  Chúng kiểm soát sự tăng trưởng và hoạt động của các tế bào bình thường.

Sự phát triển của khối ung thư trong tuyến tiền liệt phụ thuộc vào hormone sinh dục nam testosterone. 

Testorsterone do các tinh hoàn sản xuất ra.  Việc giảm lượng testosterone trong cơ thể có thể làm chậm hoặc dừng lại sự phát triển của tế bào ung thư.  Điều đó có thể thu nhỏ khối u và các triệu chứng có thể biến mất hoàn toàn.

Mức độ testosterone trong cơ thể có thể được giảm bớt bằng việc phẫu thuật một phần tinh hoàn là nơi sản xuất ra testosterone (subcapsular orchiectomy) hoặc bằng việc sử dụng thuốc. Thuốc có thể được đưa vào cơ thể bằng viên uống hoặc bằng cách tiêm, hoặc kết hợp cả hai.  Hiện nay, việc sử dụng thuốc uống hoặc thuốc viên cho điều trị nội tiết tố thường được áp dụng nhiều hơn là tiến hành phẫu thuật tinh hoàn.

Khi nào thì nên sử dụng phương pháp điều trị nội tiết tố

Đối với một số người mới bị ung thư ở giai đoạn đầu, việc điều trị nội tiết tố ngắn hạn (2 – 6 tháng) trước và trong quá trình xạ trị có thể cải thiện được kết quả của xạ trị.  Thuốc có thể được sử dụng tiếp trong vài năm hoặc lâu dài sau khi điều trị bằng tia phóng xạ nếu có rủi ro cao cho việc tế bào ung thư quay trở lại cơ thể hoặc ung thư lan rộng ra những bộ phận khác của cơ thể – phương pháp này gọi là adjuvant therapy.

Đối với những khối ung thư đã lan ra các mô khác xung quanh tuyến tiền liệt, biện pháp điều trị nội tiết tố có lẽ sẽ được khuyên áp dụng để làm giảm nguy cơ các khối ung thư tiếp tục lan rộng hơn.  Việc điều trị có thể tiếp tục trong vòng vài năm hoặc lâu dài.

Điều trị nội tiết tố là một phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho ung thư tuyến tiền liệt đã bị di căn ra các mô xung quanh hoặc đã phát triển thành ung thư thứ cấp hoặc ung thư di căn.  Thông thường, có những dấu hiệu rất cụ thể của ung thư hoặc các triệu chứng rõ rệt như hiện tượng dòng nước tiểu yếu, đau xương hoặc mệt mỏi biến mất.  Thời gian kéo dài tác dụng của việc điều trị nội tiết tố cũng rất khác nhau nhưng có thể kéo dài nhiều năm.  Bác sĩ của bạn sẽ theo dõi phản ứng của khối ung thư trong bạn với việc điều trị bằng cách đánh giá tất cả các triệu chứng và thăm khám.  Nồng độ PSA cũng sẽ được đo bởi vì thông thường, chỉ số này cho biết khá chính xác hiệu quả của quá trình điều trị.  Nếu ung thư bắt đầu phát triển trở lại, bác sĩ của bạn có thể đề nghị bạn thay đổi sang một kiểu điều trị nội tiết tố khác.

Thuốc tiêm/chích và/hoặc thuốc uống

Thuốc tiêm/chích

Một số loại dược phẩm có thể “cắt đứt” việc sản xuất hormone nam tại tinh hoàn bằng cách giảm nồng độ của một loại hormone (luteinising hormone) do tuyến yên tạo ra. Chúng được gọi là [pituitary down-regulators] hoặc [gonadotrophin] giải phóng [hormone analogues] (GnRH analogues). Những GnRH analogues thường được sử dụng là goserelin (Zoladex®), leuprorelin (Prostap®) và triptorelin (Decapeptyl SR®).

Các loại thuốc này thường được đưa vào cơ thể dưới dạng thuốc cấy dưới da bụng (goserelin), hoặc dưới dạng chất lỏng được tiêm vào cơ bắp (leuprorelin và triptorelin). Việc tiêm/ chích có thể được thực hiện hàng tháng hay mỗi quí.

Thuốc uống

Các loại thuốc điều trị nội tiết tố khác tác dụng bằng cách gắn chúng với các proteine thụ quan trên bề mặt của của các tế bào ung thư.  Điều này làm cho testosterone không thể thâm nhập vào tế bào ung thư.  Các loại thuốc này được gọi là thuốc kháng kích thích tố nam anti-androgens và thường được sản xuất dưới dạng thuốc viên.
Các loại thuốc kháng kích thích tố nam anti-androgens thường được sử dụng là flutamide (Chimax®, Drogenil®), bicalutamide (Casodex®) và cyproterone acetate (Cyprostat®).

Thuốc viên kháng kích thích tố nam Anti-androgen thường được cho uống trong vòng hai tuần trước mũi chích thuốc đầu tiên. Việc uống này nhằm tránh hiện tượng khối u nở lan ra, là hiện tượng có thể làm triệu chứng trở nên tồi tệ hơn sau khi áp dụng liều điều trị đầu tiên.

Điều trị bằng hormone sinh dục nữ oestrogen có thể được sử dụng để kiểm soát việc phát triển ung thư đối với một số bệnh nhân.  Dược phẩm chủ yếu được sử dụng chính là oestrogen do nam giới sản sinh ra được gọi là diethylstilboestrol (DES). Nó có thể làm xuất hiện hiện tượng nhão ngực, khó tiêu và có thể làm tăng nguy cơ gây nhồi máu cơ tim và xuất hiện các cục máu đông.

Đôi khi, steroid cũng được sử dụng.  Chúng có thể kiểm soát được sự phát triển của khối ung thư trong một thời gian ngắn đối với một số nam giới.  Chúng có thể được đưa vào một đơn thuốc hỗn hợp trong các dược phẩm trong hóa trị liệu.

Hiệu ứng phụ

Đáng tiếc là các liệu pháp nội tiết tố thường dẫn tới việc mất khả năng cương cứng (bất lực) hoặc việc mất đi ham muốn tình dục. Với việc phẫu thuật tinh hoàn điều này sẽ là vĩnh viễn. Với việc tiêm hoặc uống thuốc, thường thì hiện tượng này sẽ kéo dài trong thời gian điều trị.  Nếu chấm dứt điều trị, các hiện tượng trên có thể chấm dứt.  Một số loại thuốc kháng kích thích tố nam anti-androgens thường gây ra chứng bất lực nhiều hơn những loại thuốc khác.Khoảng một nửa số nam giới sử dụng liệu pháp nội tiết tố gặp phải hiệu ứng phụ gây cho họ nhiều phiền phức nhất là xung huyết (hot flushes) và chảy mồ hôi. Xung huyết sẽ chấm dứt khi việc điều trị kết thúc. Trong thời gian điều trị, có thể dùng một số loại thuốc để tiết giảm hiện tượng này.

Điều trị nội tiết tố cũng có thể làm bạn tăng cân và thường xuyên mệt mỏi, về cả thể chất lẫn tinh thần.  Việc mệt mỏi có thể thuyên giảm khi việc điều trị bằng thuốc kết thúc. Một số loại thuốc (thường xuyên là flutamide và bicalutamide) có thể làm ngực nhão và mềm.

Các loại thuốc khác nhau có các tác dụng phụ khác nhau, vì vậy, điều quan trọng là bạn cần phải thảo luận về các hiệu ứng có thể xảy ra với bác sĩ của mình trước khi bạn bắt đầu quá trình điều trị.  Việc biết trước các hiệu ứng phụ có thể xảy ra sẽ giúp bạn dễ dàng đối phó với các hiện tượng này hơn.

Để giảm bớt các rủi ro đối với các hiệu ứng phụ, liệu pháp nội tiết tố có thể được thực hiện trong vòng vài tháng, sau đó dừng lại một thời gian trước khi lại được bắt đầu lại.  Cách thức này được gọi là phương pháp điều trị không liên tục. Hiện nay, cũng chưa rõ liệu áp dụng liệu pháp này có mang lại hiệu qua như việc áp dụng điều trị liên tục, và nó vẫn đang nằm trong quá trình nghiên cứu.

Phản ứng của việc bỏ thuốc kháng kích thích tố nam Anti-androgen

Nếu liệu pháp nội tiết tố dưới dạng một loại thuốc kháng kích thích tố nam anti-androgen đã được sử dụng trong nhiều tháng hoặc nhiều năm và ung thư bắt đầu phát triển trở lại dù được điều trị, việc dừng điều trị nội tiết tố có thể làm khối ung thư thu nhỏ lại trong một thời gian. Hiện tượng này được gọi là phản ứng bỏ [thuốc kháng kích thích tố nam  anti-androgen] (AAWR) và xuất hiện ở khoảng 25% số bệnh nhân ngưng điều trị bằng [thuốc kháng kích thích tố nam anti-androgen].

Phẫu thuật tinh hoàn

Phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn là phẫu thuật đơn giản.  Một nhát cắt đơn giản ở bìu (túi đựng tinh hoàn), và cắt bỏ phần tinh hoàn sản xuất testosterone.  Bìu tinh hoàn sẽ có kích thước nhỏ hơn so với trước khi phẫu thuật.  Việc phẫu thuật có thể thực hiện trong ngày và bạn sẽ được gây tê khu vực.  Nếu bạn được gây mê tổng quát, bạn có thể cần phải ở lại bệnh viện hai hoặc ba ngày.  Đôi khi, cả hai tinh hoàn được phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn.

Một số nam giới cảm thấy rằng việc phẫu thuật này gây nhiều lo âu, căng thẳng và có cảm giác họ bớt nam tính.  Tuy nhiên, một số người thì lại cho rằng việc này không thành vấn đề.  Phẫu thuật tinh hoàn có thể có hiệu quả trong việc điều khiển được ung thư và giảm bớt 90% triệu chứng cho bệnh nhân.  Sau khi có những hiệu ứng tức thời (đau, sung và có vết thâm ở bìu tinh hoàn), các hiệu ứng phụ như [sung huyết hot flushes] và bất lực cũng tương tự như việc điều trị bằng thuốc.  Phẫu thuật tinh hoàn tránh được việc sử dụng thuốc và tránh được các hiệu ứng phụ như làm ngực to và mềm. Đây thường là cách chọn lựa của nam giới lớn tuổi, những người không muốn duy trì cuộc sống tình dục tích cực.

Nếu bác sĩ của bạn có cảm giác rằng liệu pháp nội tiết tố là một lựa chọn cho bạn, họ sẽ thảo luận với bạn về các lợi ích cũng như các hiệu ứng phụ cho cả hai cách uống thuốc và phẫu thuật.  Chúng được liệt kê tóm lược trong bảng dưới đây.

Lợi ích và những bất lợi của điều trị nội tiết tố

Phẫu thuật tinh hoàn (cắt bỏ phần tinh hoàn sản xuất ra testosterone)  

Lợi ích: Phẫu thuật tương đối đơn giản. Giúp khoảng 90% có các triệu chứng. Không cần chích thuốc hoặc uống thuốc.

Bất lợi: Hình ảnh cơ thể bị thay đổi. Vẫn có thể cần phải uống thuốc vào giai đoạn sau. Hiệu ứng phụ bao gồm sung huyết, mất khả năng cương cứng hoặc duy trì tình trạng cương cứng hoặc mất hứng thú tình dục – hiệu ứng này không thể phục hồi.

Tiêm/chích thuốc 

Lợi ích: Không cần phẫu thuật. Chích thuốc đơn giản mỗi 4 tuần hoặc mỗi 3 tháng. Thuốc có thể được ngưng sử dụng hoặc đổi sang một loại thuốc khác nếu hiệu ứng phụ quá trầm trọng.

Bất lợi: Hiệu ứng phụ có thể chỉ là nhất thời. Hiệu ứng phụ giống như với trường hợp phẫu thuật tinh hoàn nhưng các hiệu ứng phụ này có thể được phục hồi. Cần phải gặp bác sĩ để tiêm thuốc.

Uống thuốc 

Lợi ích: Không cần phẫu thuật. Thuốc có thể được ngưng sử dụng hoặc đổi sang một loại thuốc khác nếu hiệu ứng phụ quá trầm trọng. 

Bất lợi: Hiệu ứng phụ có thể chỉ là nhất thời. Luôn phải nhớ uống thuốc. Có thể gây ra các hiệu ứng nhất định như làm cho ngực nở và mềm, sung huyết, tiêu chảy (chỉ khi dùng flutamide), mất khả năng cương cứng hoặc mất ham muốn tình dục. 

Bisphosphonates điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Các loại thuốc bisphosphonates có thể được sử dụng để kiểm soát các cơn đau ở xương, và làm chậm lại quá trình hủy hoại gây ra cho xương ở nam giới mà ung thư tuyến tiền liệt đã di căn đến xương.  Liệu pháp này có thể giảm thiểu nguy cơ gãy xương và cũng giảm nguy cơ tăng can xi trong máu (hypercalcaemia). Loại bisphosphonates có thể sử dụng có chứa clodronate (Bonefos® or Loron®), ibandronate và zoledronic acid (Zometa®).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.